Trang chủ Tin TứcKinh tế Người đàn bà lưu lạc và lời chứng giải oan

Người đàn bà lưu lạc và lời chứng giải oan

Đăng bởi HiephoaNet

HHN: Qua lời kể của chị Dương Thị Liễu ở thôn Vạn Thạnh, xã Hoàng Vân, Hiệp Hòa thì vụ án Đỗ Thị Hằng đúng là một bi kịch

Gần 10 năm trời sau khi mãn hạn tù, Đỗ Thị Hằng đi khắp hang cùng ngõ hẻm để tìm lại những nhân chứng cũ hòng minh oan cho mình. Cứ mỗi khi lần tìm được một địa chỉ thì người đó hoặc đã chuyển đi đâu mất, hoặc đã chết, như ông Nguyễn Văn Ngọ – người đã khai oan cho mình trước đó.

Người đàn bà lưu lạc và lời chứng giải oan

Chị Dương Thị Liễu.

Cánh cửa đi tìm chân lý tưởng như đóng sập trước mặt chị với nỗi hàm oan khó lòng rửa được…

Chúng tôi tìm đến nhà chị Dương Thị Liễu ở thôn Vạn Thạnh, xã Hoàng Vân, Hiệp Hòa, Bắc Giang, nhưng không gặp. Bố chị bảo: “Nó đi làm dưới Hà Nội mấy năm nay, ít về lắm, anh xuống đó mà tìm”. Hỏi thăm anh Tuấn – chồng chị Liễu – thì được biết là “vợ chồng nó bỏ nhau lâu rồi”. Chúng tôi tìm đến nhà anh Tuấn, nhưng chỉ nhận được cái lắc đầu: “Chuyện ấy đã qua lâu rồi, tôi và Liễu không còn liên quan gì nữa, có gì tìm Liễu mà hỏi…”.

Ngược về Hà Nội, lòng vòng mãi chúng tôi cũng tìm thấy chị Liễu – đang làm việc nhà cho một người cháu họ xa ở đường Nguyên Hồng. Câu chuyện về người đàn bà từng là nạn nhân của một vụ buôn bán người đong đầy nước mắt. Chị kể: “Tôi và anh Tuấn lấy nhau đẻ được 2 đứa con, đứa lớn là Nguyễn Thị Oanh SN 1984, đứa bé là Nguyễn Văn Tú SN 1986. Hồi đó phải ở chung với bố mẹ chồng và các cô em chồng nên cũng hay xảy ra va chạm. Vợ chồng cãi nhau luôn”.

Chuyện của người đàn bà lưu lạc

Câu chuyện về một chiều hè gần 20 năm về trước gây ra oan nghiệt không chỉ cho chị mà còn cho nhiều người bắt đầu hiện lên trong khóe mắt. Chị nghẹn ngào: Hôm đó tôi đi bóc lá mía ngoài đồng đến quá trưa mới về. Thấy tôi về muộn, không kịp nấu cơm, anh Tuấn nghĩ là tôi đi chơi nên vác xà beng ra đánh. Bố mẹ chồng ra can thì anh ấy lại càng đánh tới tấp và nói: Đánh chết nó đi thì mới lấy được vợ mới. Bị đánh đau, uất quá tôi bỏ về nhà mẹ đẻ ở làng bên.

Vừa đi đến cổng làng thì gặp đứa cháu gái gọi bằng cô, tên là Xuyên lấy chồng ở xã bên rủ về nhà chơi. Đêm nằm hai cô cháu tâm sự, thấy hoàn cảnh của tôi nó bảo nó có người bạn chuyên đưa người lên Lạng Sơn làm ăn rất tốt, kiếm được nhiều tiền nếu tôi muốn đi nó sẽ giới thiệu. Đang tức chồng, tôi đồng ý. 8 giờ tối hôm sau Xuyên gọi bạn tên là Hồng đến đón.

Hồng đèo tôi bằng xe máy đi đến đoạn đầu cầu sắt Bắc Giang thì thả tôi xuống và nói rằng cứ ở đó đợi sẽ có người đến đón đưa lên Lạng Sơn. Tôi đứng ở đó đợi đến 11 giờ đêm thì một người đàn ông giới thiệu tên là Ngọ đưa tôi ra ga tàu lên Lạng Sơn. Sáng hôm sau xuống tàu, ông Ngọ đưa cho tôi một cái nón bảo đội vào, đi theo ông và ai hỏi cũng không được nói gì. Tôi đi theo ông ấy vào thẳng Bằng Tường, đến nhà một cô người Việt tên là Hằng.

Tôi ở đó được 10 ngày thì Hằng gọi điện cho người từ Bắc Kinh xuống đưa đi. Ôtô chạy 2 ngày, 2 đêm thì đến Bắc Kinh. Sau khi chuyển xe, họ đưa tôi thẳng ra đảo Hải Nam bằng tàu thủy. Ở Hải Nam, tôi được đưa đến nhà một người đàn bà người Việt tên là Khánh Hòa lấy chồng ở đó. Ở nhà Khánh Hòa đúng 3 tuần, bị đưa lên rừng bóc lá mía, trồng sắn.

Quệt ngang dòng nước mắt hồi tưởng những ngày cơ cực, chị Liễu kể tiếp: “Lúc đó có nhiều người đến hỏi mua nhưng ai đến hỏi, tôi đều bảo không đẻ được nữa nên họ bỏ về. Thấy thế chủ nhà tức quá, bảo: Nếu không khai thật nó đánh chết, vứt xác xuống sông, nên tôi đành phải khai thật là vẫn đẻ được. Một hôm có người tên là Hồ Dốc Tùng đến xem mặt. Tôi thấy anh này hiền lành nên tôi ưng thuận. Hồ Dốc Tùng phải trả cho vợ chồng Khánh Hòa một khoản tiền lớn để đem tôi về làm vợ”. Chị bảo: “Số tôi thế mà cũng may, Hồ Dốc Tùng là người tốt, hiền lành, chăm chỉ. Nó là chủ thầu nhà máy gạch có 300 công nhân. Từ ngày về nhà chồng mới, tôi cũng chẳng phải làm gì nặng nhọc, chồng chiều lắm nên sinh liền một lúc cho nó 2 đứa con là Hồ Lý La (SN 1997) và Hồ Dốc Phồn (SN 1999)”.

Dù đã có cuộc sống mới yên ả, sung túc quen người quen cảnh nhưng nỗi nhớ quê và 2 đứa con ở Việt Nam vẫn đau đáu khôn nguôi. Đầu 2006, chị Liễu đã cùng 8 chị em người Việt Nam ở Hải Nam (đều là nạn nhân của những vụ buôn người) được sự cho phép của nhà chồng thuê chung một chuyến xe về Việt Nam thăm quê. Về đến Móng Cái, 9 người chia tay nhau và hẹn 10 ngày sau gặp lại để quay sang với chồng. Thế nhưng khi chị Liễu về đến nhà, anh Tuấn đã đốt toàn bộ giấy tờ, điện thoại của chị để không cho đi nữa. Không còn giấy tờ, không số điện thoại, chị Liễu cũng đứt liên lạc luôn với 2 đứa con bên Trung Quốc.

Sau 10 năm gặp lại, những tưởng “Kim Kiều tái ngộ”, hạnh phúc sẽ bồi đắp cho người đàn bà đã chịu nhiều cay cực. Nào ngờ, chưa đầy 1 năm sau, đứa con trai duy nhất của chị với anh Tuấn bị tai nạn chết. Anh Tuấn ly dị với chị để sống với người phụ nữ khác. “Buồn đau và nhớ 2 đứa trẻ bên Trung Quốc quá, vì dù gì thì cũng là con mình đẻ ra, tôi định đi sang với chúng nó nhưng giấy tờ không còn nữa, nên tôi đành ở lại, đi giúp việc cho đứa cháu ở Hà Nội. Vài năm đoạn tang con, tôi sẽ tìm cách quay lại Trung Quốc” – chị Liễu chia sẻ.

Giấy xác nhận của chị Liễu – Ảnh: N.C.

Dưới mái chùa cổ gặp người báo tin

Trở về với câu chuyện của chị Đỗ Thị Hằng. Từ ngày mãn hạn tù trở về, nhìn bầy con hư hỏng, chị tự răn thân rằng đó là kiếp nạn của chị, do kiếp trước ăn ở không tử tế nên kiếp này bị quả báo. Thế là chị tìm đến cửa Phật, tụng kinh, gõ mõ, cầu cúng làm phúc cho đời. Câu chuyện oan khuất của chị cũng vì thế mà truyền miệng cho cả một vùng rộng lớn biết đến. Một ngày đầu năm 2011, trong một dịp đi lễ ở chùa Phúc Linh – một ngôi chùa cổ có từ thế kỷ 17 ở huyện Hiệp Hòa – chị Hằng được một người ghé vào tai: “Cái Liễu trong vụ án của chị nó đã về rồi”. Không thể tin ở tai mình, chị Hằng kinh ngạc nhìn người đưa tin bởi những tưởng nỗi oan khuất của chị sẽ không bao giờ giải được. Vậy là hy vọng lại bùng lên.

Xin được địa chỉ của chị Liễu, chị Hằng tìm đến nhà. Thật không may là mấy lần tìm đến, Liễu đều đi làm vắng. Để lại điện thoại cho bố Liễu, chị ra về với lời dặn: “Khi nào Liễu về thì gọi điện, việc quan trọng lắm”, nhưng chị cũng không nói cho gia đình biết là chuyện gì. Rồi một hôm đang ngồi nhà thì nhận được điện thoại của bố Liễu báo về. Chị Hằng tức tốc bắt xe ôm từ Bắc Giang vào Hiệp Hòa. “Lúc chị Hằng tìm đến nhà tôi, tôi không biết có chuyện gì và cũng không biết chị này là ai cả. Bố tôi bảo: Đây là cái chị đã mấy lần đến tìm con. Tôi mới hỏi: Chị tìm tôi có việc gì? Lúc này chị Hằng mới giới thiệu tên là Hằng bị kết án về tội bán tôi sang Trung Quốc” – chị Liễu kể lại.

Chị nói: “Tôi bảo tôi đâu có biết chị mà chị lại nói thế, nhưng chị ấy lấy bản án ra đọc cho tôi nghe. Tôi vô cùng hốt hoảng bởi tôi đâu có gặp chị ấy mà bản án lại viết là tôi gặp chị ấy và kết tội cho chị ấy như thế? Từ Bắc Giang đưa tôi sang Trung Quốc chỉ có duy nhất ông Ngọ, chứ đâu có chị Hằng. Ông Ngọ đưa tôi đến nhà một chị cũng tên là Hằng ở Bằng Tường nhưng rất trẻ và xinh, lúc đó chị Hằng ở Bằng Tường bằng tuổi tôi chứ đâu có già như chị Đỗ Thị Hằng này. Án kết như thế thì là kết tội oan cho chị ấy rồi” – chị Liễu khẳng định.

“Vậy thì theo chị, do đâu mà chị Hằng bị bắt và kết tội” – chúng tôi hỏi? “Có thể do lúc ấy anh Tuấn nhà tôi tố cáo không đúng và cũng do áp lực của ông cậu ruột tôi lúc đó là phó chủ tịch huyện nên cơ quan công an bắt nhầm người hoặc làm ẩu cho xong việc” – chị Liễu phỏng đoán. Chị cũng khẳng định sẵn sàng ra tòa làm chứng để minh oan cho chị Hằng nếu tòa án xem xét lại vụ án.

Không chỉ chị Liễu mà còn cả chị Khổng Thị Mỹ cũng đều làm đơn xác nhận chị Hằng không lừa đảo gửi đến các cơ quan công quyền đề nghị xem xét lại vụ án. Một tấn bi kịch của cả một đời người đang chờ được giải(!?). Chúng tôi sẽ tiếp tục theo dõi hành trình giải oan của chị Hằng để thông tin đến bạn đọc trong các số báo tới.

Ngô Chí Tùng, Thứ tư 29/08/2012 05:00

Bài liên quan

Gửi bình luận