Home Tin TứcKinh tế “Quốc hội khóa I – sự khai mở của một nền dân chủ mới”

“Quốc hội khóa I – sự khai mở của một nền dân chủ mới”

by HiephoaNet

 Nhân kỷ niệm 60 năm cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội khóa I (6-1-1946  –  6-1-2015), Nhà báo Nguyễn Hoàng Sáu – Tạp chí Văn hóa quân sự đã có cuộc trao đổi với đồng chí Vũ Mão – Nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Uỷ viên Hội đồng Nhà nước (khoá VIII), nguyên Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nguyên Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội (khóa VIII, IX, X), nguyên Chủ nhiệm Uỷ ban Đối ngoại Quốc hội. Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Chân dung ông Vũ Mão.

 Cuộc bầu cử trong thế “ngàn cân treo sợi tóc” và dấu ấn đậm nét của Bác Hồ – Người khai mở nền dân chủ mới

– Ngày 6-1-1946 là ngày kỷ niệm 70 năm Ngày toàn dân đi thực hiện quyền bầu cử Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nhiều sách báo đã đưa ra ý nghĩa lịch sử của sự kiện này. Với ông, sau 70 năm nhìn lại, ông có suy nghĩ như thế nào?

– Đúng là có rất nhiều sách báo đã viết về sự kiện lịch sử này rồi, vì nó là sự kiện trọng đại của dân tộc ta. Với riêng tôi, tôi khẳng định, Tổng tuyển cử bầu Quốc hội khóa I đã ghi một dấu ấn đậm nét của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người khai mở cho nền dân chủ mới – nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Xây dựng Nhà nước pháp quyền là quan điểm xuyên suốt của tư tưởng Hồ Chí Minh. Bản chất nhận thức này là xây dựng Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Chính vì thế, trong quá trình chuẩn bị tiến hành Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Người đã triệu tập Đại hội Quốc dân Tân Trào như một Hội nghị Diên Hồng của thời đại mới để bàn quyết sách xoay chuyển vận nước. Và ngay sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, tình thế muôn vàn khó khăn, thù trong giặc ngoài “nghìn cân treo sợi tóc”, vậy mà Người cũng đã sớm chỉ đạo phải tổ chức sớm cuộc Tổng tuyển cử để bầu ra Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam mới. Và ngày 6-1-1946, cuộc bầu cử Quốc hội khóa I đó đã thành công vang dội, đánh dấu một bước nhảy vọt về thể chế dân chủ mới của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Người dân từ địa vị nô lệ của kiếp tôi đòi đã trở thành chủ nhân của một nước độc lập. Và cuộc bầu cử cũng khẳng định với thế giới rằng: Nhân dân Việt Nam quyết tâm bảo vệ nền độc lập, có quyền và đã thực sự có đủ khả năng để tự quyết định vận mệnh của mình, tự lựa chọn và xây dựng chế độ mới, chế độ Cộng hòa dân chủ nhân dân…

Vâng, cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên ấy đã để lại dấu mốc quan trọng và nhiều bài học sâu sắc. Với ông, nét độc đáo của nó như thế nào?

– Nó độc đáo thì ngay ở trên tôi cũng đã nói rồi, trước tiên là nó diễn ra trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, kể cả sau này cho đến bây giờ người ta vẫn còn chưa lý giải nổi tại sao ở tình huống ngặt nghèo như vậy, một nền hòa bình, độc lập mong manh như vậy, mà Hồ Chí Minh dám và đã chèo lái vững vàng để có được cuộc bầu cử thành công vang dội như vậy? Phải sống ở vào cái thời điểm ấy mới thấy được ta khó khăn như thế nào, nạn đói vừa cướp đi sinh mạng mấy triệu người, kẻ thù vẫn lăm le tấn công, nhiều nơi vẫn còn tiếng súng, còn máu xương của đồng bào và chiến sĩ ta đổ xuống, nhiều nơi kẻ thù tập trung tuyên truyền xuyên tạc hòng làm dân mất lòng tin, không tham gia bầu cử. Nhưng chúng đã lầm, Hồ Chí Minh vẫn có niềm tin sắt đá vào lòng yêu nước của nhân dân và nhân dân đã đáp lại niềm tin ấy. Hình ảnh thân thương và giản dị của Bác đã đi vào lòng dân. Toàn dân Việt Nam khi đó đã chia sẻ với Người, vượt lên muôn vàn khó khăn để đi bầu cử, biến ngày đó trở thành Ngày Hội toàn dân, tạo nên không khí náo nức trong cả nước. Và Quốc hội đầu tiên đó đã hội tụ được nhiều những nhân tài, là những người yêu nước thuộc nhiều tầng lớp, giai cấp. Điều này thêm một lần khẳng định, Hồ Chí Minh có một sự cảm hóa tài tình, một nghệ thuật dùng người vô cùng khôn khéo và hiệu quả, nhất là trong lúc nước nhà cần phải gạt bỏ mọi sự khác biệt để xây dựng nên một  khối đại đoàn kết toàn dân tộc kháng chiến, kiến quốc.

– Thưa ông, chi tiết nào trong cuộc bầu cử đầu tiên ấy khiến ông ấn tượng nhất?

– Lúc diễn ra sự kiện lịch sử này thì tôi mới là cậu bé lên bảy tuổi. Tôi được  cha dẫn đến điểm bỏ phiếu, nơi mà ông được phân công làm nhiệm vụ bảo vệ và cảm thấy rất vui khi được hoà vào không khí của mọi người chứ chưa hiểu ý nghĩa sâu sắc của ngày Tổng tuyển cử. Mãi sau này, khi đã có nhiều năm làm công tác Quốc hội, nghiên cứu nhiều tư liệu và sách báo về nó, tôi hiểu ra nhiều điều. Đặc biệt tôi ấn tượng với câu chuyện về cụ Ngô Tử Hạ, một vị đại biểu cao tuổi nhất của Quốc hội khóa I (cụ từng là nhân sĩ Thiên chúa giáo, là nhà tư sản dân tộc trúng cử và là Chủ tịch kỳ họp đầu tiên, được bầu làm Ủy viên Ban Thường trực Quốc hội). Câu chuyện được kể lại: Hôm ấy cụ, một Đại biểu Quốc hội kéo xe đi quyên góp và phân phối gạo trong “Ngày cứu đói”. Khi cụ kéo chiếc xe qua các con phố, nhà nào cũng chờ sẵn ở trước nhà, người thì bơ gạo, người thì đấu ngô, người thi góp tiền. Đi chưa hết một vòng Bờ Hồ thì xe gạo đã đầy. Về đến Nhà hát Lớn gặp Bác Hồ, cụ chỉ cho Bác xem chiếc xe chở gạo lẫn lộn đú các loại:  gạo đỏ, gạo trắng, gạo nếp, ngô… lại có nhà thêm mấy ống đỗ. Bác Hồ nói: “Đấy mới là gạo đại đoàn kết. Nước ta có nhiều thứ gạo ngon, nhưng bây giờ thì đây là thứ gạo ngon nhất”. Sau đó, cũng tại đây, cụ Ngô Tử Hạ cùng với Bác Hồ làm lễ cầu siêu cho hơn hai triệu người đã ra đi, thật là một hình ảnh vô cùng cảm động…

– Bảy mươi năm đã qua, nhìn lại Quốc hội khóa I với  góc nhìn của một nhà hoạt động Quốc hội lâu năm, ông suy nghĩ thế nào về những thành tựu nổi bật mà nó mang lại?

– Từ cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên 70 năm trước đến nay, có thể khẳng định rằng Quốc hội nước ta gắn liền với lịch sử cách mạng vẻ vang của dân tộc. Quốc hội đã có nhiều đóng góp quan trọng vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc. Ngay từ khóa đầu tiên với 403 đại biểu được bầu ra, Quốc hội dù hoạt động vô cùng khó khăn bởi sự chống phá của kẻ thù, rồi kháng chiến, không phải lúc nào cũng tổ chức họp toàn thể được, nhưng cũng đã thể hiện rõ được vai trò chức năng là cơ quan lập hiến, lập pháp. Đặc biệt tại kỳ họp thứ 2 tổ chức tháng 10-1946, Quốc hội đã thông quan được bản Hiến pháp đầu tiên mang ý nghĩa lịch sử. Bản Hiến pháp 1946 đó, cùng với hệ thống pháp luật được xây dựng từ ban đầu, đã thể hiện tư tưởng pháp quyền của Hồ Chí Minh không chỉ dừng lại ở các quyền con người được ghi trong đó, mà còn thấm đượm lòng nhân ái, nghĩa đồng bào, chăm lo cho cuộc sống của nhân dân được ấm no, hạnh phúc theo đạo lý truyền thống hàng mấy nghìn năm của dân tộc Việt Nam. Đó cũng là triết lý pháp quyền kế thừa và hội tụ những giá trị dân chủ của nhân loại. Như đánh giá về kết quả về Quốc hội khóa I, tại kỳ họp thứ 12 – kỳ họp cuối cùng của khóa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát biểu: “Quốc hội ta đã hết lòng vì dân vì nước, đã làm trọn một cách vẻ vang nhiệm vụ của những người đại biểu của nhân dân”.

 “Đất nước đổi mới, Đảng đổi mới thì Quốc hội cũng phải đổi mới”

– Sau ngày Tổ quốc thống nhất, thì Quốc hội của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã kế thừa và tiếp tục phát huy “cái nền” của những giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ như thế nào, thưa ông?

– Vâng, đúng ba mươi năm sau cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên, thì ngày 25-4-1976, cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội khóa VI (cả nước lần thứ hai). Đây là sự kiện chính trị trọng đại, là kỳ Quốc hội hoàn thành thống nhất đất nước về mặt Nhà nước, tạo tiền đề cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong hòa bình. 

Trải qua những biến cố, thăng trầm của lịch sử, vai trò của Quốc hội ngày càng được nâng cao và khẳng định là cơ quan quyền lực cao nhất, có quyền lập hiến và lập pháp. Đặc biệt, từ khi công cuộc Đổi mới bắt đầu từ năm 1986, thì vai trò của Quốc hội được nâng lên rõ rệt. 

Sự đổi mới đó dễ nhận ra ở những điểm gì, thưa ông?

– Nói dễ nhận thì không phải dễ nhận đâu, mà ở từng chi tiết một nó khơi mở ra. Tôi nhớ thời điểm năm đầu Đổi mới, trong bài phát biểu đầu tiên tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa VIII, đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã nhấn mạnh:  “Đất nước đổi mới, Đảng đổi mới thì Quốc hội cũng phải đổi mới”. “Không thể để Quốc hội chỉ như là một cây kiểng”, ý nói như cây cảnh, chỉ hình thức, mà phải thực chất, hiệu quả. Cũng theo đồng chí, Bộ Chính trị không đi sâu vào bàn bạc những vấn đề quá cụ thể, thuộc thẩm quyền của Quốc hội. Tư duy đổi mới trong mối quan hệ giữa Đảng với Quốc hội lúc bấy giờ có thể ví như Đảng “bật đèn xanh” cho Quốc hội đổi mới và Đảng đã đặt Quốc hội vào đúng vị trí là cơ quan quyền lực Nhà nước tối cao. Đảng không can thiệp quá sâu vào công việc của Quốc hội. Và Quốc hội phải chịu trách nhiệm về các quyết định của mình. 

Có một chi tiết thú vị mà cũng là sự “chưa từng có” ở một kỳ họp Quốc hội, đó là Kỳ họp thứ ba, Quốc hội Khóa VIII (tháng 6-1988), Quốc hội bầu Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (HĐBT) mới (nay là Thủ tướng) thay cho đồng chí Phạm Hùng vừa từ trần, Trung ương Đảng giới thiệu đồng chí Đỗ Mười, trên cơ sở đó, Hội đồng Nhà nước giới thiệu với Quốc hội để bầu đồng chí Đỗ Mười. Tuy nhiên, đa số các đoàn đại biểu Quốc hội (37/43) đề nghị giới thiệu thêm đồng chí Võ Văn Kiệt, lúc đó là Quyền Chủ tịch HĐBT. Tại cuộc họp của Bộ Chính trị bàn về vấn đề này, sau khi các thành viên phân tích, đồng chí Nguyễn Văn Linh kết luận: Bộ Chính trị hoan nghênh và đồng ý với nguyện vọng của đa số các Đại biểu Quốc hội, điều này thể hiện quan điểm mở rộng dân chủ và đó chính là đổi mới. Sau lần đó, trong cuộc tiếp xúc với Đoàn nghị sĩ Mỹ thăm nước ta, khi trao đổi về vấn đề thực hiện dân chủ trong hoạt động của Quốc hội, nhắc lại chuyện lần đầu tiên có hai người cùng đưa vào danh sách bầu người đứng đầu Chính phủ của ta, tôi khẳng định: Nếu so sánh với thể chế bầu cử của Mỹ thì chúng tôi rất dân chủ. Nước chúng tôi là một đảng cầm quyền mà hai người của một đảng cùng tranh cử, nước các ngài đa đảng, mà cuối cùng cũng chỉ có hai người của hai đảng thay nhau tranh cử đó thôi. 

Cho nên có thể khẳng định, Quốc hội ta thời đổi mới đã hội tụ được trí tuệ của toàn dân đi đầu trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước. 

“Văn hóa nghị trường” trong hoạt động của Quốc hội

– Hiện nay, các phương tiện truyền thông xuất hiện nhiều hơn thuật ngữ “văn hóa nghị trường”. Theo suy nghĩ của ông thì “văn hóa nghị trường” được hiểu như thế nào? 

– “Văn hóa nghị trường” ở đây theo tôi hiểu thì là ý thức, là thái độ ứng xử, cách giao tiếp phải thể hiện được ở tầm văn hóa cao trong hoạt động thường xuyên của Quốc hội, của từng đại biểu Quốc hội. Ở các nước phương Tây, do chế độ đa đảng, nên các nghị sĩ thường thể hiện rõ chính kiến của đảng mình, họ thẳng thắn và tranh luận rất quyết liệt nhưng cũng biết lắng nghe và kiềm chế. Văn hoá Nghị trường như thế là rất hay. Tuy nhiên, không ít trường hợp, do tôn sùng kiểu tự do cá nhân thái quá, cho nên những tranh luận trong nghị trường có khi dẫn đến xung đột, mâu thuẫn rất căng thẳng. Với Quốc hội nước ta, thực hiện chế độ một đảng, mỗi tiếng nói của các vị Đại biểu Quốc hội trong nghị thì phải thực sự là tiếng nói của cử tri trao gửi cho họ. Nói đến vấn đề này tôi lại nhắc đến lời cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh: “Hơn ai hết, các vị Đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp – những người do nhân dân trực tiếp bầu ra, phải nói lên tiếng nói của họ một cách trung thực, thẳng thắn và dũng cảm bảo vệ lợi ích chính đáng của họ”. Tức là ở đây, đồng chí Nguyễn Văn Linh đã nói đến vấn đề làm sao khắc phục các cuộc họp xuôi chiều, hình thức, mà phải có sự tranh luận, thậm chí là đấu tranh, cuối cùng để đi đến sự thống nhất theo nguyên tắc tập trung dân chủ. 

Bằng sự tác động của các phương tiện truyền thông thì phải chăng, “văn hóa nghị trường” cũng vì thế mà càng được chú trọng hơn, thưa ông?

– Đúng vậy, báo chí là phương tiện góp phần quan trọng làm cho hoạt động của Quốc hội ngày càng được công khai hơn, được nhân dân quan tâm hơn, nhân dân tham gia váo các hoạt động giám sát thực thi chủ trương, chính sách, pháp luật thật sự là “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” hơn. Và đương nhiên các hoạt động của Quốc hội cũng vì thế mà chất lượng hơn, bản thân các vị Đại biểu Quốc hội cũng phải nêu cao ý thức về “văn hóa nghị trường” của mình hơn. Từ kỳ họp giữa năm 1994 (khóa IX), đã diễn ra việc truyền hình và phát thanh trực tiếp các phiên chất vấn và trả lời chất vấn ở Quốc hội. Đây là một dấu son trong hoạt động Quốc hội. Đấy cũng là nét văn hoá Nghị trường rất sâu sắc. Cho nên, có thể nói, từ hoạt động này mà “văn hóa nghị trường” chính là văn hóa tôn trọng dân, công khai, dân chủ với dân. Với mỗi vị Đại biểu Quốc hội, hay các thành viên Chính phủ, những phát biểu của họ trong các phiên chất vấn được hàng triệu cử tri cả nước theo dõi, thì đương nhiên, tự họ phải nâng cao ý thức của mình trong mỗi lời nói phát ra, để làm sao phải thực sự trí tuệ, có tâm, có tầm, và có… văn hóa. 

Trở lại phần đầu như tôi đã trao đổi, nhân nói về vấn đề này thì tôi lại muốn nhắc đến tư tưởng của Bác Hồ về nền dân chủ mới mà từ ngày đầu của chế độ mới cho đến mãi sau này Người vẫn luôn nhắc nhở: Bao nhiêu quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân. Tất cả các cơ quan Nhà nước đều phải dựa vào dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự kiểm soát của nhân dân. Với tôi, một đại biểu của 4 khóa Quốc hội luôn ghi nhớ và cố gắng học tập và làm theo tư tưởng của Người, bây giờ ngẫm lại vẫn thấy rất nóng hổi và rất sâu sắc.

Xin trân trọng cảm ơn ông đã dành cho Tạp chí Văn hóa quân sự cuộc trao đổi này!

                                                                Nguyễn Hoàng Sáu (thực hiện)

 

 

Related Articles

Leave a Comment