Home Tin TứcKinh tế Đảng mãi mãi là ngọn đuốc soi đường đưa dân tộc đi lên

Đảng mãi mãi là ngọn đuốc soi đường đưa dân tộc đi lên

by HiephoaNet

Mùa xuân Bính Thân 2016 có một ý nghĩa vô cùng đặc biệt: Mùa xuân Đảng ta 86 tuổi, cũng là mùa xuân diễn ra Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII. Nhân sự kiện này, Nhà báo Nguyễn Hoàng Sáu đã có cuộc trao đổi với PGS,TS. Nguyễn Mạnh Hà (ảnh dưới), Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Đồng chí khẳng định: “Đảng mãi mãi là ngọn đuốc soi đường đưa dân tộc ta đi lên”.

Tuổi ngoài “bát tuần” nhưng Đảng mãi thanh xuân…

– Thưa đồng chí, mùa xuân Bính Thân lại về, mùa xuân thứ 86 của Đảng, nhắc lại mùa xuân từ ngày Đảng ta ra đời, với một người chuyên nghiên cứu lịch sử Đảng, thì sự kiện này chắc lại càng được quan tâm hơn?

– Vâng, cứ mùa xuân về là chúng ta lại nhớ đến sự kiện ngày 3-2-1930 – Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhiều sách báo, tư liệu đã đề cập khá đầy đủ và toàn diện về sự kiện lịch sử này rồi. Nhưng chúng ta vẫn nhắc nhớ đến, vì không chỉ với giới nghiên cứu lịch sử, mà với tất cả mọi người, thuộc lịch sử thôi chưa đủ, mà phải nghiên cứu học tập lịch sử để rút ra được những bài học cho hôm nay và cả mai sau nữa…

– Cụ thể là về sự kiện lịch sử đặc biệt quan trọng này, đồng chí quan tâm tới vấn đề gì? 

Như chúng ta đã biết, vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, các phong trào yêu nước ở nước ta, dù theo khuynh hướng phong kiến hay theo khuynh hướng tư sản đứng lên chống thực dân Pháp xâm lược và bè lũ tay sai, nhưng cuối cùng cũng đều bị thất bại. Nguyên nhân cơ bản, căn cốt nhất vẫn là thiếu một đường lối đúng đắn, một chính đảng tiên phong lãnh đạo. 

Cuối năm 1929 đầu năm 1930, ở Việt Nam đã xuất hiện ba tổ chức cộng sản (Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng và Đông Dương Cộng sản Liên đoàn). Đó là bước phát triển về chất của phong trào cách mạng Việt Nam từ khi có ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin soi đường. Thể hiện nguyện vọng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, phù hợp với xu thế phát triển tất yếu của cách mạng Việt Nam. Nhưng vấn đề quan ngại lúc này là tình trạng phân tán về tổ chức, tranh giành ảnh hưởng quần chúng và đảng viên về mình, thậm chí có hiện tượng công kích lẫn nhau của các tổ chức cộng sản; nếu kéo dài tình trạng đó sẽ dẫn đến sự phân hóa về chính trị, tư tưởng, gây tổn hại cho phong trào cách mạng. Điều đó đặt ra yêu cầu bức thiết là phải nhanh chóng đi đến hợp nhất các tổ chức cộng sản thành một chính đảng duy nhất của giai cấp công nhân Việt Nam. 

Đứng trước đòi hỏi cấp bách của tình hình, mặc dù không được Quốc tế Cộng sản giao nhiệm vụ trực tiếp nhưng với tinh thần chủ động, sang tạo của người chiến sĩ cộng sản, Nguyễn Ái Quốc, bằng tài năng, uy tín của mình, đã triệu tập, hợp nhất các tổ chức cộng sản thành một chính đảng duy nhất – Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự ra đời của Đảng khẳng định vai trò vô cùng to lớn của Nguyễn Ái Quốc. Điều này không chỉ thể hiện từ sự dấn thân ra đi tìm đường cứu nước, làm rất nhiều nghề, đi khắp năm châu bốn biển, để rồi tìm thấy chủ nghĩa Mác – Lênin, trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Pháp, cán bộ của Quốc tế Cộng sản… rồi sự hoạt động không mệt mỏi để chuẩn bị về con người, tư tưởng và tổ chức… cho phong trào cách mạng Việt Nam. Trong tình thế hết sức khó khăn như vậy, nhưng nhờ sự vận dụng khéo léo, khả năng quy tụ tài tình mà Người đã tập hợp được các tổ chức cộng sản, mà qua đây, lại càng chứng tỏ sự sáng tạo, quyết đoán của Người. Phân tích về sự kiện thành lập Đảng, các nhà sử học đều thống nhất một điểm: Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo và phát triển lý luận về quy luật hình thành Đảng của giai cấp vô sản của chủ nghĩa Mác – Lênin. Ngoài điểm chung là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác – Lênin với phong trào công nhân như các đảng cộng sản khác, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời còn là sản phẩm của phong trào yêu nước. Đây là sự sáng tạo lớn của Nguyễn Ái Quốc, bởi bản thân Người cũng xuất thân từ một nhà yêu nước. Điều này mang lại nét riêng, đặc trưng của phong trào cách mạng Việt Nam. 

Nói về sự kiện này, cũng cần nhấn thêm rằng, chính Nguyễn Ái Quốc là người trực tiếp soạn thảo 4 văn kiện đầu tiên của Đảng khi mới thành lập, gọi chung là Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng. Những quan điểm ban đầu về phương pháp, mục tiêu, con đường của cách mạng Việt Nam nêu trong Cương lĩnh, dù rất vắn tắt, khái lược, song qua đó thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng và Chủ tịch  Hồ Chí Minh. Cương lĩnh đầu tiên không chỉ giúp cách mạng Việt Nam giành và giữ được chính quyền, mà cho đến nay vẫn còn giá trị to lớn cả về lý luận và thực tiễn. 

– Sự kiện ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam vào đúng ngày lập xuân của 86 mùa xuân trước, có sự trùng hợp ngẫu nhiên hay sự sắp đặt nào không, thưa đồng chí.? 

– Như chúng ta đã biết, cuộc họp thống nhất các tổ chức tiền thân của Đảng ta tiến hành trong khoảng 1 tháng (từ ngày 6-1 đến ngày 8-2-1930). Sau này, từ các nguồn tư liệu, tài liệu, thì đến Đại hội toàn quốc lần thứ III (9-1960), Đảng đã ra nghị quyết lấy ngày 3-2-1930 là ngày kỷ niệm thành lập Đảng. Tất nhiên còn những sự tranh luận, song chọn ngày thành lập Đảng đúng vào ngày lập xuân (năm không nhuận) cũng là một sự trùng hợp có ý nghĩa. Mà bây giờ, chúng ta hay nói “Mừng Đảng, mừng Xuân” là vì thế. Và vì gắn Đảng với mùa xuân đất nước, nên dù tuổi đã ngoài “bát tuần” nhưng Đảng mãi mãi thanh xuân, tràn đầy sức sống mới…

Sự nghiệp đổi mới là bước ngoặt lịch sử, mang ý nghĩa sống còn

– Tròn 30 năm kể từ Đại hội VI, đại hội của sự khởi đầu công cuộc đổi mới, nhắc nhớ lại sự kiện này, có người cho rằng, đổi mới là bước ngoặt lịch sử, không kém gì so với sự kiện 7-5-1954 hay 30-4-1975 kết thúc hai cuộc kháng chiến ở thế kỷ XX, tức là đề cao cái ý nghĩa thắng lợi mang tính quyết định sống còn của nó. Đồng chí có ý kiến gì về nhận định này?

 Tôi nghĩ đó cũng là ý kiến có căn cứ. Trước đây, có thời kỳ chúng ta từng nhận thức hết sức lạc quan rằng: Đảng ta đã lãnh đạo toàn quân, toàn dân đánh thắng hai đế quốc to là Pháp và Mỹ, thì trong thời kỳ hòa bình, lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội thành công là điều tất yếu. Tuy nhiên, mười năm đầu sau thống nhất đất nước, chúng ta phải đối mặt với vô vàn những khó khăn. Đất nước chịu hậu quả nặng nề của 30 năm chiến tranh; nguồn viện trợ từ Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ít dần. Bên cạnh sự bao vây, cấm vận của các nước lớn, chúng ta còn phải đối mặt với chiến tranh ở cả hai đầu đất nước. Và một cái nữa rất quan trọng, đó là cơ chế tập trung quan liêu bao cấp chỉ phù hợp trong điều kiện thời chiến, thì chúng ta duy trì kéo dài, kìm hãm phát triển sản xuất. Một đất nước nông nghiệp mà không đủ lương thực ăn, phải nhập khẩu. Khủng hoảng kinh tế, kéo theo hệ lụy của sự khủng hoảng chính trị, khủng hoảng toàn diện. Niềm tin vào chế độ, vào Đảng bị lung lay. Đặc biệt khi hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu tan rã từng mảng, thì sự tác động của nó lại càng mạnh mẽ hơn lúc nào hết…

Chúng ta có thể vận dụng câu mà người Cu-ba hay nói: “Tổ quốc hay là chết!” để nói rằng: “Đổi mới hay là chết” ở thời điểm này cũng đúng. Cho nên, phải khẳng định, Đại hội VI (tháng 12-1986) của Đảng ta mang ý nghĩa cực kỳ trọng đại, đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước và hội nhập quốc tế là sự tất yếu, không thể còn con đường nào khác! Và thực tế đã chứng minh tầm quan trọng sống còn của đổi mới, so sánh với sự kiện kết thúc hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ có thể hơi khiên cưỡng, nhưng về mặt tính chất bước ngoặt lịch sử thì cũng có thể chấp nhận được…

 – Ba mươi năm đổi mới là quãng đường khá dài, đồng chí có nhận định gì về chặng đường này?

– Nói đến điều này tôi lại nhớ đến bài thơ “Ba mươi năm đời ta có Đảng”. Thời điểm Tố Hữu viết bài thơ này vào năm 1960, kỷ niệm 30 năm thành lập Đảng, lúc chúng ta đang thực hiện đồng thời hai cuộc cách mạng ở cả hai miền. Bây giờ, 30 năm đổi mới, Đại hội XII sắp tới sẽ có tính chất tổng kết sâu sắc. Với góc nhìn của một người nghiên cứu lịch sử Đảng, tôi chỉ xin nêu vắn tắt mấy điểm. 

Sự nghiệp đổi mới bắt đầu từ 1986, với mục tiêu ban đầu là: nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế, xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, thực hiện nền kinh tế nhiều thành phần, khuyến khích phát triển kinh tế. Chủ trương đổi mới của Đại hội VI cũng rất tỉnh táo: Đổi mới kinh tế, trên cơ sở từng bước đổi mới về chính trị (bài học từ các nước Đông Âu và Liên Xô là cải cách, đổi mới về chính trị đi trước, là một trong những nguyên nhân chính gây nên sự hỗn loạn về chính trị và sụp đổ). Chúng ta đã từng bước nhận thức rõ hơn về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Quá trình đổi mới, cải cách và mở cửa, hội nhập quốc tế, chúng ta đã có những bước đi thích hợp, khắc phục được sự nóng vội, chủ quan, duy ý chí. Và quan trọng nhất là chúng ta đã đạt được những kết quả toàn diện trên tất cả các mặt từ kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội, quốc phòng – an ninh, đối ngoại… Sau 10 năm (năm 1996), đất nước cơ bản đã thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế- xã hội, Đảng ta lại tiếp tục đề ra chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Như vậy là từ những thành tựu đó, đã làm cho đất nước ta không chỉ thoát ra khỏi khủng hoảng, mà kinh tế phát triển, chính trị ổn định, quốc phòng- an ninh được bảo đảm, vị thế của Việt Nam ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế…

Đảng mãi mãi là ngọn đuốc soi đường cho dân tộc đi lên

– Đảng đã vững tay chèo lái đất nước ta vượt bao thác ghềnh để hướng tới tương lai, tuy nhiên, thực tế còn nhiều thách thức cam go. Vấn đề đổi mới, chỉnh đốn Đảng hiện nay phải chăng cũng mang một ý nghĩa sống còn, thưa đồng chí?

– Tôi thì lại nghĩ đến cái rộng hơn của sự đòi hỏi phải đổi mới trong giai đoạn hiện nay, không chỉ là đổi mới, chỉnh đốn Đảng đâu. Có ý kiến cho rằng, sau 30 năm, động lực của đổi mới dường như đã chững lại, thậm chí đã hết. Bộc lộ nhiều nguy cơ hiện hữu về sự tụt hậu ngày càng xa hơn về kinh tế. Mà kinh tế vẫn là nền tảng, là bước đi đầu tiên của sự nghiệp đổi mới. Bên cạnh đó là nạn tham nhũng, quan liêu, sự chệch hướng về tư tưởng , rồi thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch cộng với sự “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”trong nội bộ… Và vấn đề lòng tin của dân với Đảng, với chế độ giảm sút nghiêm trọng. Cộng hưởng những điều đó khiến sau 30 năm đổi mới, giờ đây chúng ta phải đối mặt với  những đòi hỏi, thách thức gay gắt mới, cho nên cần tiếp tục đổi mới, đổi mới mạnh mẽ hơn nữa. Đây là những vấn đề sống còn. Những giải pháp tái cơ cấu, tái cấu trúc nền kinh tế, đổi mới cách thức làm ăn, phát triển nhanh đi liền với phát triển bền vững, phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường… đã và đang được Đảng, Chính phủ ta nỗ lực triển khai. Còn về đổi mới và chỉnh đốn Đảng thì Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa XI) đã là một sự kiện chính trị được dư luận toàn xã hội quan tâm sâu sắc, quá trình kiểm điểm tổ chức Đảng và cán bộ, đảng viên theo tinh thần tự phê bình và phê bình đã mang lại kết quả quan trọng, góp phần làm cho uy tín, vị thế của Đảng được nâng lên. 

Với góc nhìn của một người nghiên cứu lịch sử Đảng, tôi tin và có thể khẳng định như thế này, dù còn những thách thức vô cùng lớn, nhưng với 86 năm chèo lái con thuyền cách mạng vượt qua bao thác ghềnh, có lúc thăng trầm, cách mạng Việt Nam đã đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Giờ đây, Đảng ta vẫn cơ bản giữ được sức mạnh tiềm tàng, vẫn có được lòng dân, với sức mạnh của hơn 90 triệu người dân hướng về Đảng, sẵn sàng sẻ chia với Đảng, làm theo lời Đảng gọi. Chúng ta còn nhớ đến sự kiện ra đi của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, hay sự kiện nước ngoài hạ đặt giàn khoan trái phép trên vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của ta, lúc đó lòng yêu nước và tinh thần dân tộc trỗi dậy rất mạnh mẽ, tạo thành một khối đại đoàn kết xung quanh Đảng. 

Đại hội XII của Đảng đang đến gần, chúng ta hy vọng, tin tưởng vào những quyết sách mới sẽ mang lại những sự phát triển đi lên từ đà bẩy của 30 năm đổi mới. Và cần khẳng định rằng, dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào, Đảng đã, đang và sẽ mãi là ngọn đuốc soi đường cho dân tộc đi lên…

– Xin trân trọng cảm ơn đồng chí đã dành cho chúng tôi cuộc trò chuyện này!

 

Nguyễn Hoàng Sáu (thực hiện)

 

 

Related Articles

Leave a Comment