12trip.vn

Thiếu tướng Vũ Anh Thố - Nguyên Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân: “TA THẮNG GIẶC BẰNG SỨC MẠNH VĂN HÓA”

Tin Tức

LTS: Nhân kỷ niệm 45 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” (12-1972  - 12-2017), Đại tá  Nhà báo Nguyễn Hoàng Sáu - Tạp chí Văn hóa Quân sự (Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam) đã có cuộc trao đổi với Thiếu tướng Vũ Anh Thố - nguyên Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân (PK-KQ), một trong những chứng nhân lịch sử từng tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu trong chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ trên bầu trời miền Bắc. Trân trọng giới thiệu với bạn đọc.

Trong hình ảnh có thể có: 1 người, đang ngồi và trong nhà

-Thưa Thiếu tướng, 45 năm trôi qua kể từ sự kiện lịch sử 12 ngày đêm cuối năm 1972 mà  ta vẫn gọi là  trận “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” đó, nếu để kể lại, hình dung lại một sĩ quan phòng không Vũ Anh Thố ở thời điểm đó, ông sẽ nói với bạn đọc điều gì?

-Đúng thời điểm này của 45 năm trước, tôi là Trung úy, Tiểu đoàn phó Quân sự của Tiểu đoàn tên lửa 172, Trung đoàn 277 trực thuộc Quân chủng PK-KQ. Chúng tôi vừa được đi huấn luyện 6 tháng ở Liên Xô về loại tên lửa Pê-trô-ra hiện đại thời bấy giờ, tầm bắn xa nhất trên 25km, tiêu diệt được tất cả các loại máy bay của Mỹ kể cả máy bay B-52. Nếu tính hiệu suất chiến đấu thì  Pê-trô-ra cao hơn loại tên lửa Sam-2 rất nhiều, dù Sam-2 đã được chúng ta nghiên cứu, cải tiến để nâng hiệu suất chiến đấu, dĩ nhiên còn nhiều hạn chế. Đơn vị về nước đóng quân tại Sóc Sơn (Hà Nội) – một trong những địa bàn  được coi như “túi bom” của máy bay Mỹ. Chúng tôi vừa huấn luyện trên khí tài mới vừa bảo toàn lực lượng để khi có đạn về thì bước vào chiến đấu được ngay. Tiếc là khi ấy đạn tên lửa loại này vẫn đang trên đường vận chuyển về nước, nên chúng tôi không được tham gia chiến đấu với lũ “pháo đài bay” của giặc Mỹ. Hằng ngày vừa huấn luyện, vừa chờ đạn đến sôi sùng sục, liên tiếp được thông báo về tội ác của lũ “giặc trời”, và những chiến công bắn rơi B-52 của đồng đội ở cả hai lực lượng Phòng không và Không quân, chúng tôi vừa căm phẫn quân cướp nước, vừa vui mừng trước những chiến công liên tiếp của quân ta, vừa cũng tiếc rằng, giá như có đạn tên lửa Pê-trô-ra về kịp thì chắc chắn sẽ còn nhiều hơn nữa số “giặc trời” nhất là “pháo đài bay” B-52 phải đền tội, chứ không chỉ là 34 chiếc như chúng ta đã biết.

-Vâng, bằng “đòn chiến lược” về quân sự là huy động tối đa lực lượng “pháo đài bay”, đế quốc Mỹ muốn “nghiền nát” Hà Nội, biến Hà Nội trở về “thời kỳ đồ đá”, vậy mà ta đã chiến thắng vang dội, cứ y như có phép màu. Thưa ông, nhận định này nói lên điều gì?

- Như chúng ta đã biết, đế quốc Mỹ quyết định dùng máy bay chiến lược    B-52 đánh phá Hà Nội và một số trung tâm lớn ở miền Bắc với nhiều mục đích trong đó có mục đích phá hủy trung tâm đầu não về chính trị, kinh tế, văn hóa, nhằm gây sức ép trên bàn đàm phán ở Pa-ri buộc ta phải chấp nhận những điều khoản có lợi cho chúng. Nếu chỉ nhìn vào một phía là sức mạnh về vũ khí trang bị thì rõ ràng cán cân lực lượng quá chênh lệch và chắc chắn một điều là với số lượng máy bay, bom đạn khổng lồ như thế, điều mà chúng huênh hoang “đưa Hà Nội trở về thời kỳ đồ đá” là hoàn toàn có cơ sở. Song với thế hệ chúng tôi, những người lính PK-KQ với tư cách là “người trong cuộc” thì ngay từ giữa những năm 60 của thế kỷ XX đã ở tư thế chủ động, tức là được trang bị rất kỹ về mọi mặt để sẵn sang đánh B-52, kể cả là về huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, và nhất là về tư tưởng, thì bước vào cuộc chiến đấu không cân sức đó với một tâm thế tự tin và quyết thắng cao độ. Nói cách khác, chúng ta đã sẵn sàng chờ đón “đòn chiến lược” của không lực Hoa Kỳ trong tư thế của người chủ động chứ không hề bị động.

Chúng ta cũng đã biết, ngày 19-7-1965, đến thăm bộ đội PK-KQ, Bác Hồ kính yêu đã căn dặn, cũng là lời tiên liệu thiên tài của Người: “Đế quốc Mỹ có lắm súng, nhiều tiền, có B-57, B-52 hay B gì đi nữa ta cũng đánh và đã đánh thì nhất định thắng”. Rồi ngày 29-12-1967, Bác lại tiên liệu: “Mỹ sẽ thua nhưng nó chỉ thua khi thua ngay trên bầu trời Hà Nội”. Lĩnh hội và thấm nhuần những lời căn dặn của Người, Quân chủng PK-KQ đã tổ chức việc nghiên cứu cách đánh B-52, nghiên cứu cải tiến tên lửa từ rất nhiều năm trước đó chứ không hề có phép màu nào, sự tác động siêu tự nhiên nào. Có chăng, chúng ta đã làm cho thế giới bất ngờ bởi chiến thắng lịch sử này tưởng như trái với quy luật “mạnh được yếu thua” bởi vì họ đánh giá mạnh với yếu một cách phiến diện là khối lượng vũ khí mà thôi.

-Còn có nhiều nhận định rằng ta chiến thắng bằng sức mạnh văn hóa, theo ông thì sức mạnh đó thể hiện như thế nào?

-Nói ta chiến thắng giặc bằng sức mạnh văn hóa là rất đúng, vì văn hóa có nghĩa rất rộng, bao trùm. Nhưng có thể nói sức mạnh văn hóa ở đây chính là từ tính chất của cuộc chiến tranh chính nghĩa, tính chất phòng vệ chính đáng khi kẻ thù xâm lược thì buộc toàn dân tộc ta phải chiến đấu “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”. Và nhân tố quyết định, đó là ta có Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh soi đường chỉ lối, đã đề ra đường lối chiến tranh nhân dân và nghệ thuật quân sự độc đáo Việt Nam khiến cho sức mạnh tổng hợp (có thể gọi là sức mạnh văn hóa chăng!) ấy được nhân lên gấp bội phần. Ta đánh giặc bằng tất cả con người và mọi thứ sẵn có trên đất quê hương và có trong tay. Nhớ lại thời chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ra miền Bắc, chúng ta lại càng thấy rõ nghệ thuật quân sự độc đáo thể hiện trong việc huy động tối đa nguồn hỏa lực tạo nên lưới lửa phòng không đủ sức mạnh khiến cho đế quốc Mỹ phải kinh hồn bạt vía,chúng không phát huy được sức mạnh của vũ khí, phương tiện chiến tranh hiện đại. Từ cô dân quân Quang Lang nơi Xứ Lạng, hay ông cụ già Xứ Thanh đều có thể dùng khẩu súng bộ binh mà bắn hạ máy bay địch. Hay như câu chuyện chúng ta sử dụng tên lửa của Liên Xô viện trợ bằng trí tuệ và cách đánh của con người Việt Nam; bởi vì chúng ta nhìn thấy và tìm được kẻ thù trong các loại nhiễu như Anh hùng Vũ Ngọc Diệu. Chúng ta gạt được (chống) được Srai của địch để tiêu diệt chúng và bảo vệ mình như Anh hùng Nguyễn Lành. Chúng ta sử dụng chiến thuật cơ động, phục kích, đón lõng, đánh vỗ mặt, đánh thọc sườn… của kẻ thù. Chúng ta quyết chọn chính xác mục tiêu chính nhất là B-52 mà đánh. Có trận,  một tên lửa diệt một máy bay B-52 như kíp chiến đấu của Tiểu đoàn 57, Trung đoàn 261 hồi 5 giờ 9 phút và 5 giờ 19 phút ngày 21-12-1972, kíp chiến đấu do Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Phiệt chỉ huy, Nguyễn Đình Kiên làm sĩ quan điều khiển đánh hai trận - mỗi trận một  tên lửa diệt một B-52 có chiếc rơi tại chỗ tại núi Đôi, Sóc Sơn, Hà Nội. Một kỳ tích mà ít ai ngờ tới, chính bạn cũng phải bất ngờ và thán phục.

Sau này, khi làm Phó Tư lệnh Quân chủng PK-KQ phụ trách Phòng không lục quân, tôi đã được giao chủ nhiệm đề tài cấp Bộ “Đánh máy bay bay thấp bằng súng pháo phòng không”, tôi tìm thấy những trận đánh đặc biệt một người một súng trường chỉ bắn 3 viên đạn tiêu diệt 1 máy bay khu trục của Pháp chiều ngày 6-5-1954, đó là ông Vũ Tuyền người làng Thận Tu Trại, xã Yên Nam, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam - chiếc máy bay này cắm đầu xuống đất Thường Tín. Và những trận đánh của dân quân Yên Châu, Sơn La do cô Quàng Thị Ế chỉ huy bắn rơi F-105, việc ấy giống như trung đội dân quân của Nguyễn Thị Vát ở Hải Phòng bắn rơi  F-111 trên cửa sông Văn Úc… Chính từ những kinh nghiệm và bài học đánh địch trên không như thế, cho nên, có thể nói rằng, nói đến sức mạnh văn hóa của ta không chung chung chút nào, mà nó rất cụ thể, ở chiều cạnh nào chúng ta cũng có thể lấy ví dụ ra mà chứng minh được.

-Thưa Thiếu tướng, có khi nào Thiếu tướng gặp lại những đối tượng tác chiến mà mình đã từng đối mặt chưa, và câu chuyện đó ra sao?

-Ngày 19-5-1967, đúng dịp kỷ niệm Ngày sinh nhật Bác Hồ, kíp chiến đấu của Tiểu đoàn 91 (tôi là sĩ quan điều khiển tên lửa) đã bắn rơi tại chỗ máy bay giặc Mỹ, ở Nông trường Cao Phong (Hòa Bình), tên phi công trên máy bay đó may mắn thoát chết, nhảy dù và bị bắt rồi được trao trả, tiếc là tôi chưa biết mặt và cũng chưa từng gặp lại. Sau này tôi cũng vinh dự được tiếp nhiều đoàn khách quốc tế đến thăm Bộ Tư lệnh Quân chủng nhưng tôi chưa gặp lại một cựu chiến binh Mỹ, nhất là người của lực lượng không quân đã từng đưa máy bay đánh phá ở Việt Nam. Duy chỉ có lần cách đây gần chục năm (2009), tôi đã gặp, cùng ăn chay với một cựu chiến binh Mỹ ở chùa Ngũ Xã và đã trò chuyện với ông ta. Đây là một cựu chiến binh Mỹ từng tham chiến tại Việt Nam và nay có điều kiện quay trở lại để giúp đỡ các nạn nhân của chất độc da cam mà quân Mỹ từng rải xuống nhiều cánh rừng miền Nam ta, mong muốn góp phần xoa dịu nỗi đau da cam, cũng là để xám hối với những gì mà họ đã gây ra. Qua trò chuyện, tôi thấy có thiện cảm với ông ta, một người đã biết vượt lên mặc cảm tội lỗi để làm việc thiện cho cộng đồng…

Chiến tranh đã lùi xa, chúng ta đã bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ và thiết lập quan hệ ngoại giao từ cách đây cũng đã hơn hai mươi năm (1995). Lịch sử cuộc chiến tranh không cho phép chúng ta được lãng quên, nhưng chúng ta cũng không thể cứ mãi giữ hận thù mà khép cửa. Ta vừa tổ chức thành công Tuần lễ cấp cao APEC mà thêm một vị Tổng thống Hoa Kỳ đến với ta, được chúng ta đón tiếp trọng thị, thân tình. Đấy cũng chính là biểu thị của văn hóa, thứ văn hóa cao thượng, nhân văn, vị tha đó đã và sẽ cho ta sức mạnh trong thời kỳ mới. Tôi tin như vậy.

-Thiếu tướng chắc vẫn thường xuyên theo dõi bước đường xây dựng, trưởng thành của quân đội nói chung, của Quân chủng Phòng không - Không quân trong thời bình, ông có thể chia sẻ điều gì với lớp cán bộ, chiến sĩ thế hệ hôm nay?

-Đúng vậy. Nghỉ hưu đã tròn chục năm nay, tôi vẫn thường xuyên dõi theo bước đường xây dựng, trưởng thành của quân đội và quân chủng, nơi mà tôi đã dành trọn cả đời quân ngũ gắn bó. Tôi rất vui và đồng quan điểm của Đảng, Nhà nước và Quân ủy Trung ương - Bộ Quốc phòng về chủ trương xây dựng Quân chủng PK-KQ là một trong số những lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đây là một quyết định vô cùng quan trọng. Thế hệ cán bộ, chiến sĩ hôm nay có nhiều điều kiện thuận lợi để vươn tới nắm bắt tri thức khoa học nghệ thuật quân sự trong tác chiến hiện đại, nhưng cũng vừa là thách thức khi kẻ thù dùng chiến tranh công nghệ cao và chiến tranh không còn lệ thuộc nhiều vào không gian, địa hình như thời chúng tôi chiến đấu. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn luôn mong muốn thế hệ hôm nay cần phải hiểu rõ, hiểu sâu về truyền thống, bài học kinh nghiệm, nhất là từ những trận đánh lịch sử như Chiến dịch “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” mà hôm nay chúng ta đang bàn đến, để trang bị cho mình niềm tin vào sức mạnh mà như ta vừa nói là sức mạnh văn hóa đã biến cái điều tưởng như không thể thành có thể đó. Hiện nay quân đội ta, bộ đội PK-KQ ta dù đã được trang bị thêm nhiều loại hiện đại, nhưng so với thế giới thì chúng ta còn ở mức khiêm tốn. Cho nên, nếu chúng ta không giáo dục tốt, mà giáo dục truyền thống không tốt, thì rất dễ xảy ra tâm lý bi quan hoặc chủ quan và cũng có thể huấn luyện tốt nhưng ý chí và niềm tin vào sức mạnh chiến đấu giảm sút. Tôi lấy ví dụ, có chiến sĩ đơn vị 12 ly 7 khi huấn luyện bắt mục tiêu trên không thì buột ra câu rằng: “Thời này mà vẫn còn dùng đến cái loại cổ lỗ sĩ này ư”. Ta không trách được cậu chiến sĩ này, mà chính cán bộ phải giáo dục làm sao để chiến sĩ có niềm tin vào vũ khí, trang bị, mà lịch sử đã chứng minh chỉ khi chúng ta phát huy tối đa vũ khí trang bị phương tiện trong tay và ý chí quyết tâm cao nhất, tức là nhân tố con người, mới tạo nên được sức mạnh tổng hợp đủ để chiến thắng mọi kẻ thù trong mọi tình huống.

-Được biết Thiếu tướng có niềm say mê sáng tác thơ văn, viết sách, vậy để khép lại câu chuyện hôm nay, ông có thể cho bạn đọc Văn hóa quân sự đôi điều về “nghề tay trái” này?

- Vâng, tôi là “con nhà quân sự” nhưng lại luôn có tâm hồn thơ văn. Nói vậy thôi chứ tôi sáng tác  trước hết là những nhật ký ghi lại những buồn vui hằng ngày và những chặng đường chiến đấu, công tác, học tập của mình, sau là để chia sẻ động viên đồng chí đồng đội, người thân, vượt lên những khó khăn, tạo sự lạc quan, yêu đời, yêu người, yêu cuộc sống… Đến khi về hưu mới gom nhặt xuất bản vài cuốn sách. Năm 2012, dịp kỷ niệm tròn 40 năm Chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không”, tôi được Nhà xuất bản Quân đội nhân dân biên tập, xuất bản tuyển tập thơ văn mang tên “Trăng tháng Chạp” và vinh dự được mời họp báo ra mắt Bộ sách kỷ niệm chiến thắng lịch sử này. “Trăng tháng Chạp”cũng là tên bài thơ tôi viết từ tháng 12-1992 (kỷ niệm 20 năm Chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không) khi tôi đang là Sư đoàn trưởng phòng không Hà Nội (361). Khổ cuối bài thơ tôi nhắc đến đêm trăng tháng Chạp năm 1972 ấy như lời nhắn nhủ chúng ta hay nhớ mãi một mùa trăng đã đi vào lịch sử để tự hào về chiến công chói lọi, để giữ mãi trong tim mình tình yêu đất nước với khát vọng hòa bình: “Nhớ lắm em ơi đêm Hà Nội/ Cuối Chạp trời đếm sáng hơn trăng/ Hồ Tây ánh máu, mù xương lạnh/ Hà Nội còn, các anh thành chiến sĩ Điện Biên! (Hồ Gươm rực sáng dáng Rồng thiêng)”.

PV: Trân trọng cảm ơn ông  đã dành thời gian trao đổi với Tạp chí Văn hóa quân sự!

Nguyễn Hoàng Sáu (thực hiện)