Trang chủ Tin TứcQuê hương Hiệp HoàNgười Hiệp Hòa PGS.TS Tạ Đức Thịnh: Mong được đóng góp nhiều cho quê hương

PGS.TS Tạ Đức Thịnh: Mong được đóng góp nhiều cho quê hương

Đăng bởi HiephoaNet

Cập nhật: Thứ hai, 22/11/2010 | 11:45:25 Sáng

PGS.TS. Nhà giáo ưu tú Tạ Đức Thịnh – Vụ trưởng Vụ Khoa học – Công nghệ và Môi trường, Bộ GD&ĐT: Mong được đóng góp nhiều cho quê hương

PGS.TS Tạ Đức Thịnh (phải) và GS Ngô Bảo Châu.

Lần gặp đầu tiên trong phòng vị Hiệu trưởng Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, chúng tôi đã rất có cảm tình với anh bởi phong cách vui vẻ dễ gần không hề quan cách. Chúng tôi tranh thủ “yết kiến” anh. Anh nói rất ngại bởi theo anh so với các bậc tiền nhân mình chả có gì đáng nói: “Người Bắc Giang ta, ở đâu, làm gì cũng khá, truyền thống từ xưa đến nay đã vậy. Hiền tài có, trí thức nhiều, tướng lĩnh lắm, doanh nhân thành đạt, các chính trị gia cũng không thiếu, cỡ như mình thì bé tý đáng gì!”… Rồi thì câu chuyện của chúng tôi cũng được bắt đầu:

Tôi sinh ra tại thôn Lạc Yên vùng quê nổi tiếng là An Toàn Khu của cách mạng trước đây. Quê tôi chủ yếu thuần nông, đất bạc màu, trồng cây gì cũng không hiệu quả, lúa năng suất thấp nên nghèo lắm.  Hồi nhỏ, tôi không khỏi thắc mắc rằng vì sao quê mình cứ nghèo mãi. Cần phải làm sao thoát ra khỏi cái nghèo chứ! Hiểu được tâm sự của tôi, bố mẹ tôi thường bảo: “Muốn thoát khỏi nghèo, không phải ở nhà theo đít con trâu thì chỉ có con đường học giỏi thôi”. Tôi đã mang theo quyết tâm ấy từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Trong cả quãng đời học sinh cấp 2 và cấp 3, tôi đều được bầu là lớp trưởng vì có khả năng học tập tốt. Có thời kỳ cấp 2 tôi được  phong là Chủ nhiệm hợp tác xã Măng Non (một phong trào rất rầm rộ thời bấy giờ). Lên cấp 3 dù thiên hướng của tôi thích học các môn tự nhiên đặc biệt là môn toán song tôi vẫn chỉ học ở trường cấp 3 phố huyện, không có điều kiện được theo học ở các lớp chọn, hay trường chuyên như hiện nay. Rồi thời gian thấm thoắt trôi đi, tôi tốt nghiệp cấp 3 vào loại giỏi. Khi đề nguyện vọng thi vào Trường Đại học Tổng hợp môn toán tôi cũng chưa rõ tương lai của mình thế nào. Tôi cũng như bao lớp thanh niên khác thời ấy muốn thoát ra khỏi lũy tre làng mở mang tầm mắt, có kiến thức về xây dựng quê hương. Với tôi, tôi chỉ muốn quê hương vùng chiến khu cách mạng năm xưa thay đổi vươn lên thoát nghèo.

Trong kỳ thi đại học năm ấy tôi cùng 4 học sinh trong trường đã xuất sắc đoạt loại giỏi đủ điểm được chọn đi đào tạo tại nước ngoài. Năm 1972 tôi được sang Liên Xô, học dự bị đại học tại Trường Đại học Dầu khí Bacu, sau đó học tập tại Trường Đại học Bách khoa Taskent với chuyên ngành Địa chất công trình. Thú thật ban đầu nghe nghề này tôi ớn lắm, nằng nặc xin đổi, song không được. Cán bộ nhà trường giải thích: Chúng tôi sang đây được Nhà nước phân công chọn các nghề để phục vụ đất nước sau này. Sau này đi sâu vào nghiên cứu tôi mới thấy cái hay của nghề. Nếu như trong nghề địa chất người ta chỉ hiểu là đi thăm dò rồi khảo sát tìm tài nguyên thì chuyên ngành của tôi sẽ giúp cho việc lập bản đồ, quy hoạch, tìm hiểu cấu tạo địa chất trong lòng đất phục vụ cho việc xây dựng nền móng cho cơ sở hạ tầng, một khâu đặc biệt quan trọng trong quá trình CNH-HĐH đất nước. Năm 1979, sau khi tốt nghiệp về nước tôi được phân công công tác tại Trường Đại học Mỏ – Địa chất, trực tiếp đứng lớp giảng dạy ở khoa Địa chất công trình. Để đáp ứng nhu cầu nâng cao chất lượng đào tạo của trường, năm 1986 tôi tiếp tục sang Nga lần thứ 2 làm nghiên cứu sinh tại Trường Đại học thăm dò địa chất Matxcova. Luận án Tiến sĩ của tôi là “Nghiên cứu quy luật biến đổi không gian các trầm tích đồng bằng Bắc Bộ trên cơ sở phân tích mô hình toán học trường thông số địa chất của chúng”. Sau này được ứng dụng rộng rãi tại Việt Nam. Năm 1990 về nước tôi lại tiếp tục công việc giảng dạy tại trường. Năm 2002 tôi được phong học hàm Phó giáo sư, năm 2005 tôi được đề bạt là Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Mỏ – Địa chất, năm 2008  được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nhà giáo ưu tú. Trong thời gian hơn 20 năm công tác tại Trường Đại học Mỏ – Địa chất tôi đã cùng đồng nghiệp đào tạo hàng nghìn cán bộ kỹ sư đáp ứng nguồn nhân lực cho đất nước. Bản thân tôi tham gia nhiều đề tài NCKH cấp nhà nước như: “Điều kiện địa chất công trình lãnh thổ Tây Bắc  Việt Nam”; Đề tài  “Nghiên cứu điều kiện địa chất, địa chất công trình khu vực thềm lục địa Nam Trung bộ”… Đã, đang là chủ trì thực hiện hàng chục đề tài trọng điểm cấp Bộ, thành phố Hà Nội. Chủ nhiệm Đề tài cấp tỉnh Bắc Giang “Nghiên cứu quy luật hình thành và phát triển các tai biến địa chất (lũ quét, trượt lở) tại các huyện miền núi Bắc Giang làm cơ sở khoa học, định hướng chiến lược quy hoạch phát triển bền vững kinh tế – xã hội. Do yêu cầu của cấp trên, năm 2008 tôi chuyển sang công tác tại Bộ Giáo dục  –  Đào tạo và từ đó đến nay là Vụ trưởng Vụ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (KH-CN-MT).

Được biết ở trên cương vị công tác mới, đặc thù của công việc khiến anh đi nhiều cả ở trong và ngoài nước để trao đổi học hỏi kinh nghiệm, kiểm tra công tác NCKH ở các trường đại học. Tổ chức các cuộc thi Giải thưởng sáng tạo về KH&CN Việt Nam hàng năm; Đánh giá kế hoạch thực hiện KH&CN; Xây dựng chiến lược định hướng thực hiện KH&CN của Bộ GD&ĐT những năm tiếp theo… Với tỉnh Bắc Giang anh đã kiến tạo phối hợp với Sở KH&CN tổ chức một số Hội thảo như: Hội thảo của các trường Đại học Kỹ thuật về công tác đào tạo nghề, tạo nguồn nhân lực tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2010-2015; Hội thảo về phát triển đội ngũ trí thức Bắc Giang… ngoài ra còn giúp đỡ việc NCKH trên nhiều lĩnh vực khác.

Là nhà khoa học, dường như nghề nghiệp, công việc hàng ngày luôn “ám” vào anh ngay cả trong khi nói chuyện. Anh lý giải rất cụ thể. “Tôi nói với bạn thế này nhé: Trước kia cũng đồng đất ấy, vẫn những con người ấy dù người nông dân có bỏ công làm lụng vất vả suốt ngày nhưng năng suất lúa thấp, ta vẫn thiếu lương thực không đủ ăn. Cái cụm từ “ngày giáp hạt” ở nơi nào cũng có chẳng phải ở mỗi quê tôi. Bây giờ thì sao, Việt Nam ta thừa lương thực để xuất khẩu. Đấy! Cuộc cách mạng về giống lúa cùng những kiến thức để người nông dân chủ động trong sản xuất đã giúp chúng ta có những thành công ấy. Chả nói đâu xa cái đun, cái nấu ngày xưa cũng là cả một vấn đề, với nông thôn thì rơm rạ, lá lảu luôn là một thứ được quan tâm nếu không thì chỉ có nước “cho tay vào bếp”. Nay thì thoải mái ai muốn dùng điện, hay ga, củi than đun nấu đều tiện cả. Rồi cơ sở hạ tầng, phương tiện giao thông, dụng cụ nghe nhìn, hệ thống CNTT với nhiều tiện ích được áp dụng rộng rãi đã làm thay đổi về căn bản đời sống xã hội… Tất cả là nhờ vào những tiến bộ của KHKT, phát minh của nhân loại. Tuy vậy, tôi biết dù muốn thay đổi cái gì đều cũng không đơn giản hay cần có thời gian. Trong sản xuất, hay sinh hoạt không dễ gì đưa một cái mới vào được người dân ủng hộ ngay đâu. Việc đưa tiến bộ mới của KH&CN vào làm thay đổi tập quán canh tác đã bám rễ vào nhận thức của người nông dân từ bao đời nay là cả một quá trình không hề giản đơn nhưng phải được quan tâm. Bởi lẽ ứng dụng KH&CN vào cuộc sống chính là đòn bẩy để phát triển kinh tế – xã hội”.

Tâm sự với chúng tôi về những kỷ niệm với quê hương, anh bảo ở đâu và lúc nào mình cũng đau đáu với quê hương, muốn làm được một việc gì đấy cho quê. Anh đang có dự định sẽ tập trung đội ngũ trí thức, những nhà khoa học, lãnh đạo cán bộ quản lý các trường đại học, những người công tác tại các cơ quan Bộ, Ngành, Cục, Vụ, Viện Trung ương là người Bắc Giang vào một dịp thuận lợi để có thông tin thêm về quê hương mình, những thuận lợi khó khăn trong quá trình thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh vừa qua. Từ đó có những quan tâm hoặc “hiến kế” giúp cho lãnh đạo tỉnh tổ chức, chỉ đạo tốt việc đưa nghị quyết vào cuộc sống, nhanh chóng đưa Bắc Giang ra khỏi tỉnh nghèo, sánh vai với các tỉnh trong khu vực. Bởi tất cả những người con của Bắc Giang, theo anh, dù họ có là ai, đi đâu, làm gì  đều luôn tự hào về quê hương của mình và mong có cơ hội được đóng góp nhiều cho quê hương.

Đoàn Anh Tuấn

 

Bài liên quan

Gửi bình luận